4 lượt xem

Các thuốc điều trị loét đường tiêu hóa

Loét đường tiêu hóa là thuật ngữ chung dùng để chỉ sang thương làm phá vỡ da hoặc niêm mạc đường tiêu hoá hoặc khoang miệng, nhưng thường ngụ ý chỉ sang thương đường tiêu hoá.

Ảnh minh họa








– Loét đường tiêu hoá thường do tăng tiết acid hay do vi khuẩn như Helicobacter pylori.

– Các yếu tố như hút thuốc và sự căng thẳng, ăn uống không điều độ và chế độ ăn không đúng hoặc nhịn ăn, uống rượu nhiều và một số thuốc cũng làm gây ra loét.

– Loét dạ dày có thể xảy ra ở nam giới, phụ nữ và cả ở trẻ em.

Triệu chứng loét đường tiêu hóa

– Các triệu chứng loét bao gồm cảm giác xót hay nóng rát trong vòng 1,5-3 giờ sau ăn, thường cơn đau gây mất ngủ, cơn đau giảm trong vòng chỉ một vài phút sau ăn hay sau dùng các kháng acid. Đau tái đi tái lại, thường kéo dài một vài ngày cho đến một vài tháng, cảm giác khó tiêu, ợ nóng hoặc đau khi đói, buồn nôn, sụt cân hoặc thiếu máu.

– Loét đường tiêu hoá mạn tính, của dạ dày hoặc tá tràng, cũng có thể để lại sẹo, gây cản trở đường đi của thức ăn, do đó có thể làm nôn, và sụt cân.

CÁC DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG

Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ nếu:

– Phân có máu, phân đen hoặc như hắc ín

– Nôn ra máu hay có chất giống bã cà phê

– Nôn tái đi tái lại

– Thiếu máu nặng

LỜI KHUYÊN

– Tránh hay không dùng các nước giải khát có cafein, các chất này có thể làm nặng thêm tình trạng loét.

– Giảm căng thẳng, dành nhiều thời gian thư giãn

– Tránh uống rượu, uống rượu có thể làm chậm có chế làm lành ổ loét dạ dày.

– Nên ngưng hút thuốc

– Hãy tránh một số thuốc như kháng viêm không steroid, các thuốc này có thể gây xuất huyết tiêu hoá và có thể gây ra và/hoặc làm nặng thêm tình trạng loét.

– Khi bị loét, tránh dùng thức ăn chua, cay hoặc quá nhiều gia vị.

Thuốc điều trị loét đường tiêu hóa

Thuốc kháng acid, thuốc chữa loét

Các thuốc kháng acid:

– Các thuốc này thường có tác động bằng cách gắn với acid dạ dày tạo nên một muối gần như trung hoà, nếu không nói là hoàn toàn trung hoà. Các hoạt chất như aluminum salts, magnesium salts, calcium carbonate, và so-dium bicarbonate.

– Ion Al có thể gây táo bón trong khi đó Mg có thể gây tiêu chảy. Việc phối hợp 2 chất sẽ làm giảm tác động phụ trên đường tiêu hoá.

– Các phức hợp chứa cả hai Al và Mg có thể được sử dụng như almagate, hydrotalcite, polymigel và magaldrate nhằm có hiệu quả nhanh và kéo dài.

– Thuốc kháng acid với nồng độ sodium cao như sodium blcarbonate không nên dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp, bệnh tim, suy gan, có thai.

– Các thuốc này thường kết hợp với chất chống sủi bọt như simethicone và dimethicone để phòng ngừa việc đầy hơi do sản xuất carbon dioxide một sản phẩm phụ tạo ra trong phản ứng acid – kháng acid, và alginates có tác dụng tạo thành rào chắn phòng ngừa dịch vị trào ngược lên thực quản, giúp giảm chứng ợ nóng hay đi kèm theo.

– Oxetacaine, một thuốc tê tại chỗ, thường dùng phối hợp với kháng acid giúp giảm đau và ợ nóng.

– Các thuốc điều trị loét có thể được dùng trong điều trị và dự phòng tình trạng tăng tiết acid có thể được chia thành nhóm chống tiét ngăn tiết acid dịch vị (như chẹn H2 và ức chế bơm proton), và nhóm bảo vệ tế bào và niêm mạc (như sucralfate, teprenone, các kháng acid chứa bismuth và aluminium).

Các thuốc ức chế H2:

– Các thuốc ức chế H2 như cimetidine, famotidine, nizatidine và ranitidine tác động trên các thụ thể histamine ở niêm mạc dạ dày làm cản trở sự sản xuất dịch vị.

– Những thuốc này thường là an toàn, khi không thấy cải thiện, nên tái khám lại.

Các thuốc ức chế bơm proton:

– Đây là những thuốc chống tiết ức chế enzyme chịu trách nhiệm vận chuyển chủ động các proton vào trong lòng ống tiêu hoá, vì vậy ngăn cản sự sản xuất dịch vị. Các hoạt chất là omeprazole, esomeprazole, lansoprazole, pantoprazole và sodium rabeprazole.

Các thuốc bảo vệ niêm mạc:

– Các thuốc bảo vệ như sucralfate và bismuth tạo nên một lớp áo bảo vệ phủ lên sang thương loét, ngăn không cho vết loét bị acid dạ dày ăn mòn thêm.

– Bismuth cũng có tác dụng diệt khuẩn, hỗ trợ việc phòng ngừa tình trạng tiến triển của các vết loét do nhiễm khuẩn. Bismuth phải được uống với nước.

Các thuốc khác:

– Misoprostol là chất tương tự với prostaglandin E1 được tổng hợp, dùng điều trị loét dạ dày và tá tràng bằng cách ức chế tiết acid dịch vị. Thuốc này không nên dùng cho phụ nữ có thai và do có thể gây sẩy thai.

Các kháng sinh diệt Helicobacter pylori

– Các kháng sinh như clarithromycin, metronidazole và tinidazole thường được kết hợp trong các phác đồ điều trị loét do Helicobacter pylori.

Các men tiêu hoá

– Các thuốc kháng acid, men tiêu hoá và chống đầy hơi cũng được kết hợp nhằm sử dụng trong điều trị các triệu chứng của loét.

Các thuốc điều hoà hệ tiêu hoá, chống đầy hơi, kháng viêm đường tiêu hoá.

– Các thuốc này có thể phối hợp với kháng acid trong điều trị loét

– Mesalazine, một thuốc kháng viêm, thường được dùng trong viêm ruột loét.

An thần thứ yếu

– Sulpiride thường dùng điều trị hỗ trợ trong loét dạ dày và tá tràng ở một vài nước vì khả năng giảm giảm tiết gastrin.

Điều trị hỗ trợ

– Sữa

– Cam thảo

– Vitamine A

– Sữa chua